Chữa cháy và CNCH Chữa cháy và CNCH

CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN NGHIỆP VỤ PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY CHO LỰC LƯỢNG PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY CƠ SỞ, DÂN PHÒNG

Thiếu tá Trần Văn Lung

P. Giám đốc Trung tâm huấn luyện

Cảnh sát PCCC tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

 

Bà Rịa – Vũng Tàu là tỉnh thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ, phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Nam giáp biển Đông, với 305 km chiều dài bờ biển. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 1.982km2, dân số khoảng 1.041.565 người, mật độ dân số  khoảng 525 người/km2.

Tỉnh có 08 đơn vị hành chính gồm thành phố Vũng Tàu, Thành phố Bà Rịa và 6 huyện: Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, Tân Thành, Châu Đức, và huyện Côn Đảo. Thành phố Vũng Tàu là trung tâm kinh tế, văn hóa và Thành phố Bà Rịa là trung tâm hành chính – chính trị của tỉnh.

Nằm ở vị trí rất đặc biệt là cửa ngõ của các tỉnh miền Đông Nam Bộ hướng ra biển Đông, vị trí có ý nghĩa chiến lược về đường hàng hải quốc tế, có hệ thống cảng biển lớn là đầu mối tiếp cận với các nước trong khu vực Đông Nam Á và thế giới. Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng là tiềm năng để phát triển nhanh và toàn diện các ngành kinh tế như: dầu khí, cảng và vận tải biển, sản xuất - chế biến hải sản và du lịch,… tỉnh có hệ thống giao thông đường bộ, đường biển, đường hàng không phát triển khá đồng bộ, đây là điều kiện thuận lợi để giao thương, phát triển du lịch và hợp tác đầu tư trong, ngoài nước.

Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đặc biệt là các ngành công nghiệp, dịch vụ, đến năm 2016 trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có trên 2000 cơ sở nằm trong diện quản lý về phòng cháy chữa cháy (PCCC), trong đó có các cơ sở trọng điểm Quốc gia như khí, điện, đạm, ... Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu dân cư, chợ, trung tâm thương mại, các nhà cao tầng, ... thì nguy cơ tiềm ẩn cháy, nổ ngày càng cao.

Theo thống kê số vụ cháy trên địa bàn của Cảnh sát PCCC tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tổng số vụ cháy năm 2014: 09 vụ; Thiệt hại, về người: Không, về tài sản: 30 tỷ 696 triệu đồng; ngoài ra, nhận 120 tin báo cháy. Tổng số vụ cháy năm 2915: 05 vụ; Thiệt hại, về người: Bị thương 02 người, về tài sản: 558.462.000 đồng; ngoài ra, nhận 161 tin báo cháy. 06 tháng đầu năm 2016, địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xảy ra 09 vụ; Thiệt hại, về người: 01 bị thương, về tài sản: Ước tính thành tiền 7.928.150.000 đồng  (bảy tỷ chín trăm hai mươi tám triệu một trăm năm mươi ngàn đồng) và 50,24ha thảm thực vật rừng chủ yếu là trảng cỏ, cây bụi, tre, le và một số cây nhỏ như cốc rừng, gòn gai, tràm,... (02 vụ đang tiến hành thống kê); ngoài ra, nhận 165 tin báo cháy. những vụ nhận tin báo cháy của quần chúng nhân dân và lực lượng PCCC cơ sở, Cảnh sát PCCC tỉnh đã chỉ đạo các phòng khu vực trực tiếp xuất xe, kịp thời phối hợp với lực lượng PCCC tại chỗ cứu chữa không cho cháy lan ra xung quanh. Con số thống kê này cho thấy số vụ nhận tin báo cháy của Cảnh sát PCCC tỉnh là lớn nhưng do có sự phối hợp tốt giữa quần chúng nhân dân, lực lượng PCCC cơ sở, dân phòng với Cảnh sát PCCC nên đã hạn chế được thiệt hại do cháy gây ra, đồng thời con số đó cũng cho ta thấy nguy cơ tiềm ẩn cháy và số vụ cháy xảy ra có chiều hướng gia tăng.

                   So với các tỉnh có điều kiện kinh tế phát triển trên cả nước, công tác PCCC trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã đạt được nhiều kết quả khả quan như: Hạn chế đáng kể số vụ cháy, nổ và thiệt hại do cháy, nổ gây ra. Có được kết quả như trên là do sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nước, của Bộ Công an, Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo Cảnh sát PCCC tỉnh, bên cạnh đó các Phòng nghiệp vụ thuộc Cảnh sát PCCC tỉnh đã chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân làm tốt công tác xây dựng phong trào toàn dân PCCC, chuẩn bị sẵn sàng lực lượng phương tiện kịp thời dập tắt các đám cháy, ngăn chặn không để xảy ra cháy lan, cháy lớn gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Trong công tác xây dựng phong trào toàn dân PCCC, ngoài việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật, kiến thức cơ bản về PCCC tới các cơ quan, tổ chức và từng khu dân cư, từng hộ gia đình thì công tác huấn luyện nghiệp vụ PCCC cho lực lượng dân phòng, lực lượng PCCC cơ sở của các cơ quan, tổ chức, các khu dân cư trên địa bàn tỉnh được trú trọng nhằm phát huy hơn nữa phương trâm 4 tại chỗ trong công tác PCCC đó là lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ.

                   Từ khi Cảnh sát PCCC tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được thành lập (tháng 9 năm 2014) đến nay, Trung tâm nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật, đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ PCCC&CNCH đã phối hợp với các Phòng nghiệp vụ tổ chức 164 lớp huấn luyện nghiệp vụ PCCC&CNCH cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân đăng ký huấn luyện, đề xuất Ban Giám đốc Cảnh sát PCCC tỉnh cấp 8495 "Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy", 852 "Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ cứu nạn, cứu hộ"; đặc biệt đã phối hợp với Công an các địa phương trên địa bàn tỉnh mở các lớp huấn luyện nghiệp vụ PCCC cho lực lượng công an, dân phòng và lực lượng PCCC cơ sở của các cơ quan hành chính. Hoạt động này góp phần xây dựng và phát triển phong trào toàn dân PCCC trên địa bàn tỉnh, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy, nổ gây ra.

Tuy nhiên về chất lượng các hoạt động của lực lượng PCCC cơ sở, dân phòng vẫn chưa đảm bảo yêu cầu thực tế. Hoạt động của lực lượng PCCC cở sở, dân phòng một số nơi còn mang tính hình thức, nặng về phong trào; không thường xuyên hướng dẫn về nghiệp vụ PCCC sát với tình hình thực tế tại nơi sản xuất kinh doanh cũng như nơi cư trú, nên có vụ cháy xảy ra tại các cơ sở sản xuất hay khu dân cư công tác tổ chức chữa cháy của lực lượng PCCC cơ sở, dân phòng còn lúng túng, chưa hiệu quả. Qua công tác theo dõi, kiểm tra đánh giá phân loại hoạt động của lực lượng PCCC cơ sở, dân phòng trên địa bàn tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu chúng tôi nhận thấy nguyên nhân dẫn đến lực lượng này hoạt động chưa hiệu quả do:

1. Chế độ chính sách đối với người được điều động, huy động trực tiếp chữa cháy, phục vụ chữa cháy và cán bộ, đội viên đội dân phòng, đội PCCC cơ sở, chuyên ngành tham gia huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ PCCC theo Thông tư 52/2015/TTLT-BLĐTBXH-BCA-BTC ngày 10/12/2015 của Bộ lao động thương binh và xã hội, Bộ Công an, Bộ tài chính chưa được thực hiện đồng bộ, do thiếu sự quan tâm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức.

2. Ý thức, kiến thức PCCC của một bộ phận người đứng đầu cơ sở còn yếu kém, chưa thực hiện đúng chức trách của mình đối với công tác PCCC theo quy định của pháp luật, không có các biện pháp giải pháp nhằm đảm bảo các biện pháp an toàn PCCC cụ thể cho cơ quan, đơn vị trong phạm vi quản lý, còn trốn tránh trách nhiệm trong việc đầu tư các trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện PCCC cần thiết; chỉ lo sản xuất kinh doanh để tăng lợi nhuận; coi việc PCCC là trách nhiệm của lực lượng Cảnh sát PCCC&CNCH.

3. Công tác tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến kiến thức pháp luật về PCCC đã được thực hiện nhưng chưa thường xuyên. Hình thức và biện pháp tuyên truyền còn đơn giản, chưa sát với tình hình thực tiễn. Đội viên PCCC cơ sở, dân phòng đã được huấn luyện nghiệp vụ PCCC nhưng thiếu kỹ năng thực hành khi có cháy, nổ xảy ra do việc tổ chức thực tập phương án chữa cháy ở một số cơ quan, tổ chức được tiến hành còn mang tính hình thức, thậm chí còn có cơ quan, tổ chức chưa tiến hành được việc thực tập phương án chữa cháy theo quy định.

Đặc điểm của Đội PCCC cơ sở, dân phòng thường có sự xáo trộn về nhân sự, do luân chuyển hoặc thời gian hợp đồng làm việc ngắn, công tác PCCC chỉ là kiêm nhiệm không liên quan trực tiếp đến thu nhập của họ nên một số người chưa nâng cao ý thức trách nhiệm của mình trong công tác PCCC.

4. Việc tự tổ chức kiểm tra an toàn PCCC của lực lượng PCCC cơ sở cũng như lực lượng dân phòng còn nhiều bất cập, yếu kém. Thời điểm tự kiểm tra của lực lượng PCCC cơ sở, dân phòng mới chỉ là tập trung vào giờ làm việc, còn lơ là trong việc kiểm tra trước và sau giờ làm việc; nội dung kiểm tra còn chung chung, sơ sài nên vẫn bỏ xót nhiều sơ hở, thiếu xót vi phạm quy định an toàn PCCC. Đồng thời, qua kiểm tra cũng chưa đưa ra được những biện pháp, giải pháp khắc phục dứt điểm những sơ hở, thiếu xót. Tại một số cơ sở, khu dân cư có đội viên PCCC cơ sở, dân phòng chưa nắm chắc kiến thức về PCCC nên khi tham gia công tác kiểm tra cũng chỉ đánh giá sơ sài, chủ yếu theo sách vở, không có phân tích sâu để rút kinh nghiệm, chỉ ra các biện pháp loại trừ điều kiện gây cháy, nhiều chỗ, nhiều nơi còn nể nang, né tránh việc nhắc nhở cũng như xử lý các vi phạm về an toàn PCCC. Có nơi chỉ kiểm tra nhắc nhở qua loa, không ghi biên bản và không có chế tài cụ thể đối với các hành vi vi phạm, nên hiệu quả công tác kiểm tra không cao.

5. Việc tổ chức thường trực sẵn sàng chữa cháy ở nhiều cơ quan, tổ chức, khu dân cư chưa được coi trọng, quân số còn thiếu, nhất là vào buổi tối, đêm và thời điểm chuyển giao ca làm việc.

Xây dựng lực lượng PCCC cơ sở, lực lượng dân phòng là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược trong công tác PCCC, nhằm thực hiện nguyên tắc: "Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia hoạt động PCCC" và "Mọi hoạt động PCCC trước hết phải được thực hiện và giải quyết bằng lực lượng và phương tiện tại chỗ", thực hiện mục tiêu xây dựng thế trận toàn dân tham gia PCCC và đảm bảo vai trò nòng cốt trong công tác PCCC cơ sở, dân phòng. Để nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng PCCC cơ sở, lực lượng dân phòng trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng và cả nước nói chung, cần phải làm tốt một số nhiệm vụ cơ bản sau:

Một là, xác định rõ vị trí, vai trò quan trọng của lực lượng PCCC cơ sở và dân phòng, thực hiện nghiêm túc các quy định về trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, trách nhiệm của chủ hộ gia đình và trách nhiệm của cá nhân trong việc tổ chức các hoạt động PCCC. Theo quy định của Luật PCCC và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCCC, trách nhiệm thành lập, quản lý, chỉ đạo hoạt động đối với lực lượng dân phòng là của chủ tịch UBND cấp xã, phường; đối với lực lượng PCCC cơ sở là người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Tổ chức tốt công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về PCCC để nâng cao ý thức trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, trách nhiệm của chủ hộ gia đình và trách nhiệm của cá nhân đối với công tác đảm bảo an toàn PCCC.

Hai là, duy trì, đảm bảo lực lượng và tổ chức tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện nghiệp vụ PCCC cho lực lượng PCCC cơ sở, dân phòng. Lực lượng PCCC cơ sở, dân phòng là lực lượng nòng cốt trực tiếp tổ chức công tác  PCCC ở cơ sở, khu dân cư cho nên lực lượng này cần có những kiến thức cần thiết về các biện pháp PCCC. Vì vậy, thủ trưởng các đơn vị, chính quyền địa phương, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, phải thực hiện tốt trách nhiệm của mình đối với công tác PCCC, tăng cường quản lý, chỉ đạo hoạt động của đội PCCC cơ sở, dân phòng. Đồng thời đội PCCC cơ sở, dân phòng phải được huấn luyện nghiệp vụ PCCC thường xuyên, nội dung huấn luyện phải phù hợp với tình hình đặc điểm của từng loại hình cơ sở, khu dân cư.

Ba là, thực hiện đồng bộ chế độ chính sách đãi ngộ phù hợp đối với lực lượng dân phòng và lực lượng PCCC cơ sở theo quy định của Luật PCCC và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật PCCC, Nghị định 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Luật PCCC. Thực hiện nghiêm túc quy định định mức chế độ hỗ trợ thường xuyên cho các chức danh Đội trưởng, đội phó đội Dân phòng, Đội trưởng, Đội phó Đội PCCC cơ sở không chuyên trách theo Khoản 2, Khoản 3 Điều 35, Nghị định số 79/2014/NĐ-CP của Chính phủ; Chế độ chính sách đối với người được điều động, huy động trực tiếp chữa cháy, phục vụ chữa cháy và cán bộ, đội viên đội dân phòng, đội PCCC cơ sở, chuyên ngành tham gia huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ PCCC theo Thông tư 52/2015/TTLT-BLĐTBXH-BCA-BTC ngày 10/12/2015 của Bộ lao động thương binh và xã hội, Bộ Công an, Bộ tài chính.

Bốn là, các cấp, các ngành, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, chủ hộ gia đình quan tâm đầu tư mua sắm các trang thiết bị, dụng cụ chữa cháy ban đầu theo đúng quy định của Thông tư số 56/2014/TT-BCA ngày 12/11/2014 của Bộ Công an về quy định trang thiết bị, phương tiện PCCC cho lực lượng dân phòng, lực lượng PCCC cơ sở, lực lượng PCCC chuyên ngành. Đảm bảo các lực lượng này có đầy đủ các trang thiết bị cần thiết để tổ chức chữa cháy ngay từ giai đoạn ban đầu khi cháy, nổ xảy ra nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy, nổ gây ra.


Hỗ trợ tư vấn Hỗ trợ tư vấn

Văn Bản Pháp Quy Mới Văn Bản Pháp Quy Mới

Video Tư liệu Video Tư liệu

Chân dung người chiến sĩ pccc Chân dung người chiến sĩ pccc

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT PHÒNG CHÁY... 13/04/2017 14:00
Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy (PCCC) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BRVT)...

Thống Kê Truy Cập Thống Kê Truy Cập

Đang truy cập: 3
Tất cả: 1199227